Giới thiệu hệ thống

Thời gian gần đây, cùng với sự mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại toàn cầu, các hàng rào bảo vệ thương mại truyền thống như thuế, thuế quan… được dỡ bỏ thì các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ) đã được nhiều nước sử dụng như một công cụ bảo hộ sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh gay gắt và ngày càng tăng của hàng hóa nhập khẩu nước ngoài.

Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là những lĩnh vực không còn quá mới mẻ đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời gian vừa qua, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã gặp không ít khó khăn khi phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của nước ngoài, đặc biệt là các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như: cá tra, basa, tôm và da giầy….

Kể từ năm 1994 đến nay, con số các vụ kiện đã lên đến gần 100 vụ, trong đó phần lớn là các vụ kiện chống bán phá giá. Nếu tính từ thời điểm khi vận hành website cảnh báo sớm từ năm 2009, số lượng vụ việc liên quan đến chống bán phá giá tăng từ 31 vụ lên hơn 50 vụ, trung bình tăng khoảng từ 3 – 4 vụ/năm. Không những chi tăng lên về số vụ mà các biện pháp chống bán phá giá còn mở rộng phạm vi áp dụng sang những nước từ trước đến nay ít áp dụng, hơn nữa tần suất áp dụng lại rất lớn như Indonesia, Malaysia…

Mặt khác, các nước đang có xu hướng kiện kép, (kết hợp áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp) đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam nhưng thường đều bắt nguồn thường từ những yếu tố phá giá.

Các vụ kiện do các nước áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đã và đang gây ra những tác động tiêu cực đáng kể cho các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Một mặt, các vụ việc sẽ làm giảm đáng kể lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải đầu tư nguồn lực kháng kiện và xây dựng phương án khai thác thị trường mới. Các tác động kinh tế không chỉ dừng lại ở các nhà sản xuất sản phẩm bị kiện chống bán phá giá mà lan rộng sang các ngành công nghiệp khác. Đó chính là phản ứng mang tính dây chuyền của các ngành công nghiệp sử dụng các sản phẩm bị điều tra bán phá giá làm nguyên liệu đầu vào.

Nhằm mục đích giảm thiểu tối đa các thiệt hại do các vụ kiện chống bán phá giá có thể gây ra đối với các hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đồng thời giúp cho doanh nghiệp có thêm thời gian chuẩn bị và chủ động phòng, tránh các vụ kiện có thể xảy ra, một trong những giải pháp mà Cục Quản lý cạnh tranh đưa ra đó là vận hành một hệ thống cảnh báo sớm đối với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.

Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá

Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu Việt Nam được Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) xây dựng dựa số liệu xuất nhập khẩu đáng tin cậy, quy định pháp luật của WTO và thực tiễn điều tra của các nước.

Những lợi ích mà Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá mang lại?

Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá sẽ giúp doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ:

- Xác định sớm các mối đe dọa/nguy cơ bị điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu Việt Nam trước khi chính thức có đơn khởi kiện từ các ngành sản xuất của nước ngoài.

- Các doanh nghiệp Việt Nam có đủ thời gian và điều kiện để kịp thời điều chỉnh nhằm loại bỏ những mối đe dọa và chủ động đối phó với các cuộc điều tra của các cơ quan có liên quan của nước ngoài.

- Duy trì và phát triển kim ngạch và tốc độ xuất khẩu, qua đó giúp các ngành công nghiệp của Việt Nam ngày càng có tính cạnh tranh cao trên thị trường toàn cầu.

Ai được hưởng lợi từ hệ thống?

Nhóm đối tượng hưởng lợi trực tiếp của hệ thống này là các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Họ sẽ được tiếp cận với các thông tin, số liệu về xuất nhập khẩu các mặt hàng chủ lực vào các thị trường chính. Họ cũng sẽ được cảnh báo nếu có nguy cơ xảy ra các vụ kiện phòng vệ thương mại và được tư vấn để phòng tránh các vụ kiện cũng như giảm thiểu thiệt hại trong trường hợp vụ kiện xảy ra.
 

Phạm vi và đối tượng cảnh báo?

Hiện nay, Hệ thống cảnh báo tập trung vào 08 thị trường gồm: EU, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc Canada, Úc và Brazil với 13 ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam: Nhóm sản phẩm thép; Máy móc,  Nội thất; Thủy hải sản; Da giày, Dệt may, Đồ gỗ, Dây cáp điện, Chất dẻo, Cao su, Giấy, Dụng cụ quang học đo lường, và Thiết bị điện.

Phạm vi của Hệ thống cảnh báo sẽ được điều chỉnh và mở rộng linh hoạt dựa trên mức độ ảnh hưởng của các thị trường trong thời gian tiếp theo.